Binh lính đóng quân trên đảo cứ ba năm lại luân chuyển một lần, vậy mà chồng tôi đã ở đó suốt mười hai năm.

Không chỉ người không về, đến cả khoản trợ cấp tôi cũng chưa từng nhìn thấy.

Để nuôi mẹ chồng bệnh nặng cùng bốn đứa con, tôi từng b/á/n m/á/u, từng đi xin ăn, thậm chí còn đem đứa con gái ruột duy nhất của mình cho người khác nuôi.

Đến lần luân chuyển thứ năm, tôi vẫn nhận được tin chồng không được điều về, tôi hoàn toàn suy sụp.

Bà thím hàng xóm nói có thể anh ấy đắc tội với lãnh đạo, khuyên tôi lên đơn vị làm ầm ĩ một phen.

Tôi cầm ba đồng tiền cuối cùng trong nhà, lên con thuyền ra đảo, dọc đường hỏi thăm và lần theo đến văn phòng của đơn vị đóng quân trên đảo.

Vừa định giơ tay gõ cửa thì tôi nghe thấy tiếng của chồng.

“Chính ủy, lần này tôi cũng không định rời đảo.”

Chính ủy lên tiếng:

“Đoàn trưởng Chu, lãnh đạo đã nhiều lần gọi điện cho tôi, dặn bằng mọi giá lần này phải khuyên cậu quay về. Hơn nữa, cho dù cậu không nghĩ cho bản thân thì cũng nên nghĩ cho gia đình, vợ cậu viết rất nhiều thư, nói tình hình ở nhà rất khó khăn…”

“Đàn bà yếu mềm.” Chồng tôi mắng,

“Nhà ai mà chẳng có chút khó khăn, sao chỉ có cô ta là chịu không nổi. Chính ủy, đừng quan tâm đến cô ta, cô ta chỉ là đứa hay mè nheo thôi.”

“Đất nước trao cho tôi bộ quân phục này, tôi phải có trách nhiệm. Đây là khoản trợ cấp tháng này của tôi, phiền anh như những lần trước, gửi hết cho lũ trẻ của các liệt sĩ giúp tôi.”

Nghe đến đây, trong lòng tôi ngổn ngang trăm mối.

Thì ra không phải đắc tội với ai, mà là trong lòng chồng tôi, chẳng có gì quan trọng bằng bộ quân phục này.

Nếu đã như vậy, tôi trả anh lại cho Tổ quốc.

Xin anh hãy cho tôi được tái giá, để tôi sống những tháng ngày bình dị như bao người phụ nữ khác.

“Tất cả trợ cấp đều gửi đi hết sao?”

Chu Giác Dân đáp dõng dạc:

“Tất nhiên rồi.”

Chính ủy thở dài:

“Lão Chu à, cũng nên gửi chút ít về cho chị dâu chứ. Trong thư cô ấy nói ở nhà không còn gì ăn, mẹ cậu bệnh nặng cần tiền chữa trị, ba đứa con trai lớn rồi, mỗi bữa ăn ngốn hơn chục cân tem phiếu. Cậu người thì không về được, chẳng giúp gì, ít nhất cũng nên giúp về mặt tiền bạc…”

“Chính ủy, sao hôm nay anh nhiều lời thế.” Chu Giác Dân khó chịu ngắt lời,

“Tô Mạn Thanh ấy à, chỉ giỏi phóng đại, anh không hiểu cô ta đâu. Trước kia cô ta là tiểu thư tư sản, không chịu được khổ. Bao năm nay không biết đã viết cho tôi bao nhiêu lá thư đòi tôi về nhà, tôi thì cứ nhất định không chiều theo cái thói xấu đó. Về sau, những bức thư đó anh cũng đừng đọc nữa, đốt hết đi là xong.”

“Chiều nay còn huấn luyện, tôi phải qua doanh trại.”

Lời còn chưa dứt, Chu Giác Dân đã mở cửa.

Tôi không kịp tránh, liền đối mặt với anh.

Anh nhìn tôi thật lâu rồi mới lên tiếng:

“Đồng chí, cô tìm ai?”

Mũi tôi cay xè, nước mắt trực trào:

“Chu Giác Dân, là em.”

Chu Giác Dân trừng to mắt.

Cũng không trách anh không nhận ra tôi.

Lần cuối chúng tôi gặp nhau là sáu năm trước, khi anh đưa ba đứa trẻ mồ côi của liệt sĩ về nhà, nói muốn nhận nuôi.

Khi đó, mẹ chồng tôi bệnh chưa nặng, vẫn có thể tự chăm sóc bản thân.

Tôi còn làm việc trong đoàn văn công, mỗi tháng tiền trợ cấp cũng đủ nuôi ba đứa trẻ lên bốn, lên năm.

Hồi ấy Chu Giác Dân bảo lần luân chuyển đó anh nhất định sẽ được về, lúc ấy sẽ cùng tôi chăm lo cho mẹ và mấy đứa nhỏ.

Tôi đã tin.

Không ngờ mấy tháng sau vẫn không thấy anh về, rồi lại hứa ba năm nữa.

Tôi đợi hết ba năm lại ba năm, từ một diễn viên múa xinh đẹp như hoa, trở thành một người đàn bà trung niên thân hình sồ sề.

Còn Chu Giác Dân thì vẫn trẻ trung như xưa.

Tôi còn chưa kịp chìm trong ký ức thì đã bị anh kéo vào một góc.

Anh hạ thấp giọng:

“Mạn Thanh, sao em lại đến đây? Anh đã dặn rồi, nếu không có chuyện gì đặc biệt thì đừng tìm anh, ảnh hưởng không tốt.”

Tôi hít hít mũi, không trả lời câu hỏi của anh, mà ngược lại hỏi:

“Em vừa nghe chính ủy gọi anh là đoàn trưởng, anh thăng chức khi nào vậy?”

Binh lính đóng quân trên đảo có chính sách, cán bộ từ cấp doanh trở lên sẽ được phân nhà, có thể đón người nhà ra đảo sống cùng.

Hồi Chu Giác Dân mới lên đảo đã là trung đội trưởng.

Anh là học viên xuất sắc tốt nghiệp trường quân sự, năm nào cũng lập công, lại đóng quân suốt ngần ấy năm, theo lý thì sớm đã được đề bạt.

Những ngày tháng gian nan nhất, tôi đã viết biết bao thư hỏi anh khi nào được thăng chức.

Cho dù anh không thể về, thì cả nhà tôi cũng có thể lên đảo đoàn tụ.

Nhưng Chu Giác Dân luôn bảo tôi chờ, chờ thêm nữa.

Sau này thì dứt khoát không thèm hồi âm.

Bà thím hàng xóm nói có thể anh ấy thẳng tính quá, đắc tội với lãnh đạo, lại sĩ diện, không dám nói với gia đình.