Đêm giao thừa, tôi lướt điện thoại và thấy buổi livestream quay bằng drone của ban tuyên truyền quân khu.

Ngoài quảng trường doanh trại pháo hoa rực rỡ, người chồng bảy năm của tôi – Tư lệnh quân khu Lục Đình Thâm – đang ôm hôn người phụ nữ được gọi là “góa phụ đồng đội” của anh, Sở Tri Vi.

Tôi lướt tay tắt màn hình, gọi điện cho anh.

Chuông đổ hồi lâu trong căn phòng vắng tanh, anh mới bắt máy. Trong nền có thể nghe lờ mờ tiếng kèn quân hiệu và tiếng người ồn ào.

“Tôi hỏi anh đang ở đâu?” – tôi cất tiếng.

Sau một thoáng im lặng, anh đáp, cố giữ giọng bình tĩnh: “Anh đang ở phòng trực của quân khu, chẳng phải anh nói rồi sao, đêm giao thừa có nhiệm vụ trực chiến.”

“Cùng Sở Tri Vi ‘trực’ sao?”

Đầu dây bên kia im lặng lâu hơn nữa.

Tôi nghe giọng mình thản nhiên đến kỳ lạ: “Anh luôn thế mà, nói dối không xong thì chọn cách im lặng.”

“Vậy thì từ nay trở đi, anh không cần nghĩ lý do nữa.”

Tôi dứt khoát cúp máy. Căn nhà trong khu gia đình sĩ quan yên ắng đến mức nghe rõ cả tiếng gió ngoài cửa sổ.

Trên bàn ăn, ba món mặn hai món chay và một bát canh đã nguội ngắt từ lâu.

Tôi nhìn chằm chằm vào mâm cơm đó thật lâu, đột nhiên cảm thấy toàn thân mệt rã rời.

Bảy năm trước cũng vào ngày này, Lục Đình Thâm vẫn còn ở trong căn nhà tạm dựng nơi đóng quân, nấu mì cho tôi bằng bếp dã chiến.

Anh đột nhiên rút từ túi áo ra một chiếc hộp nhung đã cũ mòn: “Nam Khê, lấy anh nhé.”

“Giờ anh chỉ có thể tặng em chiếc nhẫn bạc kỷ niệm huân chương hạng ba này, nhưng anh hứa sau này nhất định sẽ giành được huân chương hạng nhất – xứng đáng với em.”

Khi nói điều đó, ánh mắt anh còn sáng hơn cả đèn pha trong doanh trại.

Chiếc nhẫn bạc ấy tôi vẫn luôn đeo trên tay, lớp mạ đã tróc hết, nhưng tôi chưa từng tháo ra.

Anh từng hứa sẽ bảo vệ tôi cả đời bình yên, và tôi hoàn toàn tin tưởng.

Hồi mới ổn định trong quân đội, anh là sĩ quan cấp cơ sở, còn tôi làm văn chức trong hậu cần.

Ban ngày anh huấn luyện, làm nhiệm vụ; tôi xử lý sổ sách, lo hậu cần. Ban đêm anh về trễ, chúng tôi chỉ kịp đứng bên hàng rào doanh trại nói với nhau vài câu, thỉnh thoảng cùng nhau chia một chiếc bánh quy ép nóng trong căng tin.

Có lần để kịp hỗ trợ cuộc diễn tập khẩn cấp, tôi thức liền hai ngày hai đêm kiểm kê vật tư, rồi ngất lịm trong kho hậu cần.

Lục Đình Thâm đã cõng tôi chạy đến trạm y tế, chân anh run rẩy suốt quãng đường.

Mắt anh đỏ hoe: “Chúng mình xin chuyển ngành đi, anh không thể để em khổ thế này.”

Tôi lắc đầu: “Không được, đây là con đường cả hai ta đã chọn, dù khó cũng phải đi tiếp.”

Sau đó, nhờ chiến công, anh thăng tiến liên tục và trở thành tư lệnh quân khu. Chúng tôi cũng được phân nhà rộng rãi trong khu gia đình. Cuộc sống cuối cùng cũng ổn định.

Ngày anh lần đầu nhận huân chương hạng nhất, sau lễ tuyên dương, anh ôm tôi xoay vòng dưới gốc cây ngô đồng trong doanh trại.

Rồi đột nhiên anh ngồi sụp xuống, vùi mặt vào lòng tôi.

Tôi cảm nhận bờ vai mình bị thấm ướt bởi thứ gì đó ấm nóng.

Anh nói: “Nam Khê, cả đời này anh sẽ không phụ em.”

Năm thứ ba, chức vụ của anh ổn định.

Chúng tôi trang hoàng lại nhà cửa. Anh giữ lời, đặt huân chương hạng nhất ngay nơi nổi bật nhất trong phòng khách.

Năm thứ tư, anh quỳ một gối, nắm tay tôi nói: “Vợ à, mình sinh con nhé?”

Tôi vuốt bụng còn phẳng lì, mỉm cười gật đầu.

Khi đó tôi vừa được thăng làm trưởng ban hậu cần. Nhưng nhìn ánh mắt đầy mong đợi của anh, tôi vẫn nộp đơn xin nghỉ việc, toàn tâm theo anh chuẩn bị mang thai.

Đến tháng thứ hai, tôi bị nghén nặng phải nhập viện trong bệnh viện quân khu.

Lục Đình Thâm mỗi ngày chạy giữa thao trường và bệnh viện, quầng mắt đen sậm đáng sợ.

Tôi chạm vào mặt anh: “Anh nhờ lính hậu cần phụ giúp một chút đi, anh còn bận huấn luyện.”

Anh lắc đầu: “Vợ anh, anh phải tự mình chăm.”

Khi đó tôi nghĩ, đây chính là hạnh phúc vững vàng nhất của một gia đình quân nhân.

Cho đến nửa năm trước, khi vợ của chiến hữu đã hi sinh – Sở Tri Vi – dẫn con đến tìm anh.

Chính tay Lục Đình Thâm ra ga đón mẹ con họ.

Hôm đó anh về rất muộn, trên người vương mùi nước hoa lạ – không phải mùi xà phòng đặc trưng của quân đội.

Vừa cởi áo khoác quân phục, anh vừa nói: “Chồng của Tri Vi hy sinh vì che chở cho anh. Cô ấy một mình nuôi con rất vất vả. Anh đã giúp cô ấy tìm chỗ ở gần khu gia đình quân nhân.”

Từ hôm đó, “vất vả” trở thành lá chắn cho mọi hành động của Sở Tri Vi.

Nhà cô ấy hỏng ống nước – Lục Đình Thâm đích thân đến sửa. Con cô ấy cảm – Lục Đình Thâm lái xe đưa đi bệnh viện.

Cô ấy buồn – Lục Đình Thâm ngồi cùng cô ấy ở công viên ngoài doanh trại đến tận đêm.

Tôi từ những thắc mắc ban đầu, chuyển thành nghi ngờ, rồi là những cuộc cãi vã lặp đi lặp lại.

Lục Đình Thâm luôn nói: “Nam Khê, em trước đây đâu phải người không biết cảm thông như vậy.”

Tôi đáp: “Lục Đình Thâm, còn anh trước đây cũng không xem việc nhà người khác quan trọng hơn tổ ấm của chính mình.”

Về sau, anh chẳng buồn giải thích nữa.

Dù tôi khóc, tôi giận đến mức nào, anh cũng chỉ lặng lẽ nhìn, rồi quay người vào thư phòng, hoặc viện cớ “họp khẩn cấp” để rời đi.

Chỉ còn lại mình tôi, trong căn nhà trống rỗng, giống như một trò cười.

Thậm chí đến đêm giao thừa hôm nay, anh cũng chẳng thèm nói dối cho trọn vẹn.

Nói là đang trực chiến ở phòng làm việc, nhưng lại xuất hiện trong livestream quay từ flycam của phòng tuyên truyền – ôm hôn một người phụ nữ khác.

Tiếng mở khóa cửa vang lên ngoài sảnh.

Lục Đình Thâm bước vào, thấy tôi và mâm cơm đã nguội lạnh, khựng lại vài giây.

“Chưa ngủ à?”

Tôi không đáp.